Điều hòa và điều chỉnh miễn dịch

Hệ miễn dịch không ngừng thay đổi. Có rất nhiều nhân tố ảnh hưởng đến trạng thái của hệ miễn dịch. Các nhân tố này bao gồm cách sống, dinh dưỡng, hormon, thuốc và chính các tác nhân gây bệnh.


Từ khoá: miễn dịch, sức khoẻ hệ miễn dịch, điều biến hệ miễn dịch, điều hoà hệ miễn dịch, IQShield, IQShield+

Hệ miễn dịch của chúng ta, giống như cái giá đỡ của cơ thể, rất năng động. Các nhân tố như cách sống và dinh dưỡng quyết định một phần lớn trong sức khoẻ và chức năng hệ miễn dịch. Cũng có những nhân tố khác có ảnh hưởng tới hệ miễn dịch: do cơ thể điều hoà hệ miễn dịch thông qua sự điều chỉnh hormon, sau đó là do việc sử dụng các thuốc kháng viêm và thuốc ức chế miễn dịch và cuối cùng là do những ảnh hưởng của chính các tác nhân gây bệnh lên hệ miễn dịch. Tất cả các nhân tố này ảnh hưởng đến trạng thái thay đổi không ngừng của sự miễn dịch của chúng ta.

Điều hoà sinh lý

Hormon có thể thực hiện vai trò của các điều biến miễn dịch, nhằm thay đổi tính nhạy cảm của hệ miễn dịch. Ví dụ như, hormon nữ giới được biết đến như là các chất kích thích miễn dịch của cả hai đáp ứng miễn dịch thích ứng [1] và bẩm sinh [2]. Một số bệnh tự miễn như lupus ban đỏ thường nhằm vào phụ nữ và thời gian bắt đầu tấn công của chúng thường trùng với tuổi dậy thì. Ngược lại, hormone nam giới như testosterone có vẻ như là chất ức chế miễn dịch. [3] Các hormone khác xuất hiện cũng để điều hoà hệ miễn dịch, đặc biệt nhất là hormon tiết sữa (prolactin), hormone sinh trưởng và vitamin D. [4-6] Người ta cho rằng sự giảm sút nhanh chóng lượng hormone khi về già là một phần nguyên nhân gây ra sự miễn dịch bị yếu đi ở người già. [7] Thêm vào đó, một vài hormone bị điều hoà bởi chính hệ miễn dịch, đặc biệt nhất là các hormone tuyến giáp. [8]

Các nhân tố khác cũng ảnh hưởng đến sự miễn dịch. Ví dụ như, giấc ngủ và sự nghỉ ngơi sẽ tăng cường hệ miễn dịch, nhưng sự căng thẳng sẽ làm nó bị suy yếu đi. [10] Chế độ ăn uống cũng có thể ảnh hưởng đến hệ miễn dịch; ví dụ, hoa quả tươi, rau và các thực phẩm giàu các axit béo omega-3 có thể giúp tăng cường hệ miễn dịch khỏe mạnh. [11] Tương tự như vậy, việc thiếu dinh dưỡng cho bào thai có thể gây ra sự suy yếu hệ miễn dịch suốt đời. [12] Một số thảo dược cho thấy giúp kích thích hệ miễn dịch, như cây cúc dại, cam thảo, nhân sâm, cây đậu ván dại, cây ngải đắng, tỏi, quả cây cơm cháy, nấm đông cô và linh chi, cây bài hương, mật ong. Các nghiên cứu đã cho thấy các thảo dược này quả thực là có thể giúp kích thích hệ miễn dịch [13], nhưng phương thức hoạt động của chúng rất phức tạp và khó để mô tả.

Điều chỉnh trong y học

Hệ miễn dịch có thể được điều chỉnh để ngăn chặn các đáp ứng không mong muốn xảy ra do tính tự miễn, dị ứng và đào thải cấy ghép và kích thích các đáp ứng bảo vệ chống lại các tác nhân gây bệnh mà có thể vượt qua hệ miễn dịch (như là việc gây miễn dịch hay tiêm chủng). Các thuốc ức chế miễn dịch được sử dụng để hạn chế các rối loạn tự miễn hoặc viêm khi có tổn hại mô quá phát, và để ngăn ngừa đào thải cấy ghép sau khi một cơ quan cấy ghép. [14, 15]

Các thuốc kháng viêm thường được sử dụng để hạn chế các tác động của phản ứng viêm. Một nhóm các thuốc như glucocorticoid là các thuốc kháng viêm có tác dụng mạnh nhất; tuy nhiên, chúng có nhiều các tác động phụ không mong muốn (ví dụ như béo phì vùng thân, tăng glucose – huyết, loãng xương). [16] Người ta thường sử dụng những liều dùng thấp hơn của các thuốc kháng viêm để kết hợp với các thuốc gây độc tế bào hoặc ức chế miễn dịch như methotrexate hay azathioprine. Các thuốc gây độc tế bào ức chế đáp ứng miễn dịch bằng việc diệt các tế bào đang phân chia như các tế bào T hoạt hoá. Tuy nhiên, việc tiêu diệt này rất bừa bãi và các tế bào đang phân chia liên tục khác và các bộ phận của chúng cũng bị ảnh hưởng, gây ra các tác động phụ gây độc. [15] Các thuốc ức chế miễn dịch như cyclosporin ngăn chặn các tế bào T phản ứng với các tín hiệu một cách phù hợp bằng cách ức chế các đường dẫn chuyển nạp tín hiệu. [17]

Điều chỉnh bởi các tác nhân gây bệnh

Sự thành công của bất cứ một tác nhân gây bệnh nào phụ thuộc vào khả năng của nó để lẩn tránh các đáp ứng miễn dịch của ký chủ. Vì vậy, các tác nhân gây bệnh đã phát triển một số cách thức để cho phép chúng lây nhiễm ký chủ thành công, đồng thời lẩn tránh sự tiêu diệt của miễn dịch trung gian. [18] Vi khuẩn thường vượt qua các hàng rào vật lý bằng cách tiết ra các enzyme làm tiêu hàng rào này. [19] Một số các vi khuẩn có hại sử dụng một cơ chế mà nhờ đó làm tổn thương màng tế bào của ký chủ, cho phép tác nhân gây bệnh tiêm protein vào ký chủ. Các protein này thường liên quan đến việc gây vô hại hàng phòng ngự của ký chủ. [20]

Một số tác nhân gây bệnh phá hỏng hệ miễn dịch bẩm sinh thông qua việc tái tạo nội bào (còn được gọi là sinh bệnh học nội bào). Ở đây, tác nhân gây bệnh trải qua phần lớn vòng đời của nó ở bên trong các tế bào ký chủ, nơi mà nó được bảo vệ khỏi phải tiếp xúc trực tiếp với các tế bào miễn dịch và các kháng thể. Một số ví dụ về các tác nhân gây bệnh nội bào bao gồm các virut, vi khuẩn Salmonella và các ký sinh trùng eukaryotic gây ra bệnh sốt rét. Nhiều tác nhân gây bệnh tiết ra các hợp chất làm giảm hoặc định hướng sai đáp ứng miễn dịch của ký chủ [18], trong khi đó thì một số vi khuẩn lại tạo ra một màng bảo vệ xung quanh chính bản thân chúng. [21] Cũng có các vi khuẩn khác thì lại sinh ra các protein bề mặt để kết hợp với các kháng thể, đồng thời làm cho chúng bị vô hiệu hoá, như là các protein Streptococcus. [22]

Cơ chế mà virut sử dụng để tránh hệ miễn dịch thích ứng thì phức tạp hơn. Phương thức đơn giản nhất là thay đổi nhanh chóng các quyết định kháng nguyên (epitope) không cần thiết (hay các vật ghi như các axit amin và đường) trên bề mặt của kẻ xâm phạm, đồng thời che giấu các epitope cần thiết. Ví dụ như, HIV thường làm biến đổi các protein trên vỏ bọc virut của nó là yếu tố thiết yếu cho việc xâm nhập vào bên trong tế bào mục tiêu ký chủ của nó. Sự thay đổi kháng nguyên nhanh chóng này có thể giải thích cho sự thất bại của một số văcxin mà được nhằm vào các protein này. Che giấu các kháng nguyên bằng các phân tử ký chủ là chiến lược tương tự thường được dùng, nhằm làm cho hệ miễn dịch khó khăn trong việc xác định chúng là các phân tử “không cùng loại”. [24]

You may also like...

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *