Thành phần cấu tạo

Thành Phần

Axit béo Omega-3 (DHA & EPA)
(Não, miễn dịch & thị lực)
Docosahexaenoic (DHA) và Eicosapentaenoic (EPA ) là các axit béo thiết yếu đối với sự phát triển và hoạt động chức năng của hệ miễn dịch, thần kinh mạch, thị giác và hệ thần kinh trung ương. DHA và EPA cần thiết cho việc tổng hợp các synap thần kinh và tái tạo mô hình não trong giai đoạn học hỏi đầu đời và hoạt động với vai trò là các nhân tố điều tiết chủ chốt của viêm nhiễm, khả năng dung nạp và các phản ứng miễn dịch điều tiết của tế bào. Thiếu hụt axit béo omega-3 dẫn tới ngưng trệ phát triển, suy giảm thần kinh, dị ứng và các rối loạn miễn dịch. Các nghiên cứu lâm sàng đã cho thấy nhiều tác dụng cải thiện phát triển khác nhau mà omega-3 bổ sung có thể mang lại cho trẻ nhỏ. Các sản phẩm bổ sung omega-3 đã được chứng minh là có thể đem lại các tác dụng có lợi đối với năng lực trí tuệ, giúp cải thiện khả năng nhận thức, học tập, trí nhớ, khả năng tập trung và tốc độ xử lý thông tin của trẻ em [1-4] (xem hình 1). Omega-3 cũng có ảnh hưởng lớn đối với các đặc điểm ứng xử, cải thiện chức năng tâm lý xã hội và làm giảm

sự tập trung và các biểu hiện vật lý của chứng rối loạn tăng động giảm chú ý (ADHD) [5-7]. Sự cải thiện phát triển miễn dịch cũng đạt được dưới tác dụng của omega-3 bổ sung trong đó các nghiên cứu đã minh họa sự giảm đáng kể nguy cơ bị dị ứng và nhiễm trùng đường hô hấp [8- 10] (xem hình 2).

Colostrum – Bovine (Colostrum Sữa non – Bò)
(Miễn dịch & tiêu hóa)
Sữa non là sữa bò được tiết ra trong vài ngày đầu tiên sau mỗi lần sinh đẻ. Lượng các hợp chất dinh dưỡng và miễn dịch của sữa non cao hơn rất nhiều so với sữa ở giai đoạn sau đó. Sữa non chứa các glubin miễn dịch, các yếu tố tăng trưởng cytokine, các protein miễn dịch với hoạt tính sinh học (lactoferrin), kháng sinh và các nhân tố điều tiết miễn dịch ở lượng cao hơn nhiều so với sữa thường (ở giai đoạn về sau) vốn không có hoặc chứa lượng rất ít các thành phần này. Những thành phần này đặc biệt có tác dụng giúp đẩy mạnh sự phát triển hệ miễn dịch, chống lại các mầm bệnh và hỗ trợ tăng trưởng và sức khỏe tổng thể. Bổ sung sữa non ở những trẻ em (1 -10 tuổi) tăng trưởng không bền vững do các yếu tố ngoại sinh, giúp tạo ra những cải thiện đáng kể đối với sức khỏe và trọng lượng cơ thể [11]. Các sản phẩm bổ sung sữa non cũng có thể giảm độ nghiêm trọng của bệnh nhiễm trùng đường hô hấp trên do virus ở trẻ em bị thiếu IgA (xem hình 3) [12] và các sản phẩm này cũng đã được chứng minh là có các thuộc tính điều hòa miễn dịch, và làm giảm số trường hợp và triệu chứng nhiễm trùng đường hô hấp ở người lớn [13, 14], cũng như làm giảm bệnh tiêu chảy ở các bệnh nhân bị suy giảm miễn dịch [15].

Kẽm
(Não, miễn dịch & tăng trưởng chung)
Kẽm là một trong những dưỡng chất quan trọng nhất cho tăng trưởng và phát triển. Kẽm có nhiều vai trò khác nhau bao gồm nhưng không giới hạn ở việc: trao đổi chất tế bào, tín hiệu nội bào, di cư tế bào, tổng hợp nơron thần kinh, tổng hợp synap thần kinh, đảm bảo sự tuân thủ cấu trúc protein, các hoạt động của enzyme và hooc môn, kiểm soát các gốc tự do, sự chết tế bào và chức năng phiên mã và sao chép tế bào. Đặc biệt, kẽm có vai trò quan trọng đối với các hệ thống dạ dày – ruột non, da, xương, miễn dịch, và hệ thần kinh trung ương. Thiếu kẽm trong giai đoạn trẻ nhỏ có thể gây chậm tăng trưởng, các rối loạn thần kinh và tăng nguy cơ mắc bệnh. Các nghiên cứu đã cho thấy bổ sung kẽm ở trẻ em đi học có thể cải thiện tăng trưởng, khả năng nhận thức và trí nhớ và giúp phát triển thần kinh ở các mặt như ổn định tâm lý, hiếu động thái quá, và hành vi ứng xử của trẻ [16-18]. Các sản phẩm bổ sung kẽm đem lại hiệu quả trong việc điều trị các rối loạn thần kinh và tâm lý như bệnh rối loạn tăng động giảm chú ý hay hiếu động thái quá (ADHD) [19, 20]. Hơn nữa, sản phẩm bổ sung kẽm đã được chứng minh là có hiệu quả làm giảm triệu chứng và thời gian mang bệnh ở một số giai đoạn của các trường hợp nhiễm trùng đường hô hấp và tiêu chảy (xem Hình 4) [21-23].

Iốt
(Não & tăng trưởng chung)
Iốt là khoáng chất thiết yếu cho việc sản sinh các hooc môn tuyến giáp (triiodothyronine; T3 và thyroxine; T4). Các hooc môn tuyến giáp có vai trò tối quan trọng đối với các quá trình trao đổi chất cho sự tăng trưởng và phát triển của cơ thể. Chúng có vai trò then chốt trong sự phát triển và sự trưởng thành của não, cần thiết cho di cư tế bào, biệt hóa và tín hiệu tế bào, cũng như tổng hợp synap thần kinh và melin hóa [24]. Thiếu iốt có thể dẫn đến ngưng trệ phát triển nghiêm trọng và gây thiểu năng trí tuệ (đần độn) và là chủ thể của các rối loạn thần kinh và thể chất khác. Thiếu iốt cũng là nguyên nhân hàng đầu gây ra chứng chậm phát triển trí tuệ có thể ngăn ngừa được và các tổn thương não trên thế giới. Thậm chí thiếu iốt ở mức độ nhẹ đến trung bình ở trẻ em có thể làm giảm/chậm khả năng nhận thức, trí tuệ, khả năng học tập và phát triển trí não [25]. Thiếu iốt là một mối lo ngại thực sự trên toàn thế giới do sự giảm sút các nguồn thực phẩm giàu iốt. Mức iốt trong rau cũng thấp hơn do sự giảm sút mức iốt trong đất và việc nhiều nhà sản xuất lương thực, thực phẩm, và gia đình sử dụng muối không trộn iốt cũng là những nguyên nhân dẫn đến tình trạng iốt của cơ thể kém và tăng nguy cơ gây bướu cổ [26]. Các đánh giá phân tích tổng hợp trên các nghiên cứu lâm sàng [27, 28] đã cho thấy rõ ràng việc bổ sung iốt cho trẻ em có thể cải thiện đáng kể tình trạng iốt và làm giảm tỷ lệ mắc bướu cổ, và đồng thời giúp cải thiện khả năng nhận thức của trẻ. Đặc biệt, các sản phẩm bổ sung iốt có thể giúp cải thiện trí tuệ, khả năng giải quyết các vấn đề, kỹ năng vận động tinh xảo (thực hiện các thao tác nhỏ) và khả năng xử lý thông tin [29, 30] (xem Hình 5). Các tác dụng tích cực cũng được ghi nhận ở sự phát triển thể chất và hệ thần kinh và tỷ lệ tử vong.


Vitamins B1, B2 & B12
(Não, miễn dịch & tăng trưởng chung)
Vitamin B1, B2 và B12 là các vitamin thiết yếu cho não, hệ miễn dịch và sự phát triển cũng như các hoạt động chức năng nói chung của cơ thể. Chúng hỗ trợ chuyển hóa các chất dinh dưỡng đa lượng thành nhiên liệu cho não và toàn bộ phần còn lại của cơ thể. Chúng hoạt động như các đồng enzyme cho nhiều chức năng tế bào, và hoạt động trao đổi chất và tổng hợp DNA,
protein và chất béo. Thiếu hụt các vitamin nhóm B này có liên quan đến việc suy giảm chức năng thần kinh, mất trí nhớ, các vấn đề và rối loạn tâm lý xã hội, bệnh thần kinh, hệ miễn dịch ngừng hoạt động và mắc các bệnh tự miễn. Bổ sung các vitamin nhóm B này giúp duy trì đáp ứng vitamin nhóm B cho cơ thể, cung cấp đủ các vitamin nhóm B này cho nhu cầu năng lượng, phát triển, và các chức năng của hệ miễn dịch và thần kinh.

Tài Liệu Tham Khảo
1. Dalton, A. et al., (2009) ‘A randomised control trial in schoolchildren showed improvement in cognitive function after consuming a bread spread, containing fish flour from a marine source.’ Prostaglandins Leukot Essent Fatty Acids. 80(2-3): p.
143-9.
2. Drover, J.R. et al., (2011) ‘Cognitive function in 18-month-old term infants of the DIAMOND study: a randomized, controlled
clinical trial with multiple dietary levels of docosahexaenoic acid.’ Early Hum Dev. 87(3): p. 223-30.
3. McNamara, R.K. et al., (2010) ‘Docosahexaenoic acid supplementation increases prefrontal cortex activation during sustained attention in healthy boys: a placebo-controlled, doseranging, functional magnetic resonance imaging study.’ Am J Clin Nutr. 91(4): p. 1060-7.
4. Willatts, P. et al., (2013) ‘Effects of long-chain PUFA supplementation in infant formula on cognitive function in later childhood.’ Am J Clin Nutr. 98(2): p. 536S-42S.
5. Amminger, G.P. et al., (2013) ‘Omega-3 fatty acid supplementation in adolescents with borderline personality disorder and ultra-high risk criteria for psychosis: a post hoc subgroup analysis of a double-blind, randomized controlled trial.’ Can J Psychiatry. 58(7): p. 402-8.
6. Gustafsson, P.A. et al., (2010) ‘EPA supplementation improves teacher-rated behaviour and oppositional symptoms in
children with ADHD.’ Acta Paediatr. 99(10): p. 1540-9.
7. Itomura, M. et al., (2005) ‘The effect of fish oil on physical aggression in schoolchildren–a randomized, double-blind, placebo-controlled trial.’ J Nutr Biochem. 16(3): p. 163-71.
8. Birch, E.E. et al., (2010) ‘The impact of early nutrition on incidence of allergic manifestations and common respiratory
illnesses in children.’ J Pediatr. 156(6): p. 902-6, 906 e1.
9. Furuhjelm, C. et al., (2009) ‘Fish oil supplementation in pregnancy and lactation may decrease the risk of infant allergy.’
Acta Paediatr. 98(9): p. 1461-7.
10. Pastor, N. et al., (2006) ‘Infants fed docosahexaenoic acidand arachidonic acid-supplemented formula have decreased incidence of bronchiolitis/bronchitis the first year of life.’ Clin Pediatr (Phila). 45(9): p. 850-5.
11. Panahi, Y. et al., (2010) ‘Bovine colostrum in the management of nonorganic failure to thrive: a randomized clinical trial.’ J Pediatr Gastroenterol Nutr. 50(5): p. 551-4.
12. Patiroglu, T. and M. Kondolot, (2013) ‘The effect of bovine colostrum on viral upper respiratory tract infections in children
with immunoglobulin A deficiency.’ Clin Respir J. 7(1): p. 21-6.
13. Brinkworth, G.D. and J.D. Buckley, (2003) ‘Concentrated bovine colostrum protein supplementation reduces the incidence of self-reported symptoms of upper respiratory tract infection in adult males.’ Eur J Nutr. 42(4): p. 228-32.
14. Shing, C.M. et al., (2007) ‘Effects of bovine colostrum supplementation on immune variables in highly trained cyclists.’ J Appl Physiol (1985). 102(3): p. 1113-22.
15. Kaducu, F.O. et al., (2011) ‘Effect of bovine colostrum-based food supplement in the treatment of HIV-associated diarrhea
in Northern Uganda: a randomized controlled trial.’ Indian J Gastroenterol. 30(6): p. 270-6.
16. Umamaheswari, K. et al., (2011) ‘Effect of iron and zinc deficiency on short term memory in children.’ Indian Pediatr. 48(4): p. 289-93.
17. Bhatnagar, S. and S. Taneja, (2001) ‘Zinc and cognitive development.’ Br J Nutr. 85 Suppl 2: p. S139-45.
18. Lind, T. et al., (2004) ‘A community-based randomized controlled trial of iron and zinc supplementation in Indonesian
infants: effects on growth and development.’ Am J Clin Nutr. 80(3): p. 729-36.
19. Arnold, L.E. et al., (2011) ‘Zinc for attention-deficit/ hyperactivity disorder: placebo-controlled double-blind pilot trial alone and combined with amphetamine.’ J Child Adolesc Psychopharmacol. 21(1): p. 1-19.
20. Cope, E.C. and C.W. Levenson, (2010) ‘Role of zinc in the development and treatment of mood disorders.’ Curr Opin Clin
Nutr Metab Care. 13(6): p. 685-9.
21. Bhutta, Z.A. et al., (1999) ‘Prevention of diarrhea and pneumonia by zinc supplementation in children in developing countries: pooled analysis of randomized controlled trials. Zinc Investigators’ Collaborative Group.’ J Pediatr. 135(6): p. 689-97.
22. Sazawal, S. et al., (1996) ‘Zinc supplementation reduces the incidence of persistent diarrhea and dysentery among low
socioeconomic children in India.’ J Nutr. 126(2): p. 443-50.
23. Sazawal, S. et al., (1998) ‘Zinc supplementation reduces the incidence of acute lower respiratory infections in infants and
preschool children: a double-blind, controlled trial.’ Pediatrics. 102(1 Pt 1): p. 1-5.
24. Bernal, J., (2007) ‘Thyroid hormone receptors in brain development and function.’ Nat Clin Pract Endocrinol Metab. 3(3): p. 249-59.
25. Bougma, K. et al., (2013) ‘Iodine and mental development of children 5 years old and under: a systematic review and metaanalysis.’ Nutrients. 5(4): p. 1384-416.
26. Chen, Z. et al., (2013) ‘Associations of noniodized salt and thyroid nodule among the Chinese population: a large crosssectional study.’ Am J Clin Nutr. 98(3): p. 684-92.
27. Angermayr, L. and C. Clar, (2004) ‘Iodine supplementation for preventing iodine deficiency disorders in children.’ Cochrane Database Syst Rev. (2): p. CD003819.
28. Taylor, P.N. et al., (2014) ‘Therapy of endocrine disease: Impact of iodine supplementation in mild-to-moderate iodine deficiency: systematic review and meta-analysis.’ Eur J Endocrinol. 170(1): p. R1-R15.
29. Gordon, R.C. et al., (2009) ‘Iodine supplementation improves cognition in mildly iodine-deficient children.’ Am J Clin Nutr. 90(5): p. 1264-71.
30. Zimmermann, M.B. et al., (2006) ‘Iodine supplementation improves cognition in iodine-deficient schoolchildren in Albania: a randomized, controlled, double-blind study.’ Am J Clin Nutr. 83(1): p. 108-14.